Đồng hương, quê hương, hội đồng hương, tin tức quê hương, Hội đồng hương xã Hà Ngọc, Hà Trung, Thanh Hóa, Đồng hương Thanh Hóa, hội đồng hương
danh mục  
Video
Làng văn hóa
Đặc sản địa phương
Y tế giáo dục
tra cứu thông tin
Danh sách đồng hương
thư viện ảnh
thống kê truy cập
Lượt truy cập 892
Số người online 2
 
 
Chi tiết tin tức  
Hà Trung đất và người [14-06-2013 11:36]

Hà Trung nguyên là tên của một phủ. Cái phủ ấy rất lớn, gồm các huyện Hà Trung Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn bây giờ. Sau cách mạng tháng Tám năm Bốn lăm, hệ thống chính quyền phong kiến bị bãi bỏ, các đơn vị hành chính mới được thiết lập, huyện Hà Trung được hình thành trên cơ sở huyện Tống Sơn là huyện cũng nằm trong phủ Hà Trung trước đó. Hà Trung lúc này có mười xã. Mỗi xã lúc bấy giờ lớn lắm, có xã có tới gần hai chục làng, rộng mênh mông. Sau cải cách ruộng đất được chia lại thành hai mươi lăm xã. Và mô hình ấy tồn tại cho đến bây giờ. Có một điều đặc biệt là tất cả hai mươi lăm xã trong huyện Hà Trung đều có chữ Hà đứng đầu: Hà Long, Hà Vân, Hà Đông, Hà Dương… gọi tên các xã mà cứ như hát: Bình, Ninh, Phong, Phú, Thái, Lai, Châu… Người trong huyện đi dân công đắp đê, đi hội họp, đi công việc hàng huyện khi hỏi nhau, câu cửa miệng không hỏi là xã, mà hỏi bằng Hà: Hà nào đấy? Anh ở Hà nào?.v.v…Đó cũng là điều độc đáo.

“Hà Trung là miền đất lâu đời. Trải qua các thời kỳ lịch sử, huyện Hà Trung (hiện nay) được gọi bằng những tên khác nhau: Tống Giang, Tống Sơn. Từ thời Trần về trước tên huyện được gọi là Tống Giang, thời thuộc Minh cũng là Tống Giang, thuộc phủ Thanh Hoa. Đời Lê Quang Thuận (1460-1470), Tống Giang thuộc phủ Hà Trung. Đời Lê Trung Hưng thế kỷ 16 đổi Tống Giang thành Tống Sơn. Là đất xuất thân của triều Nguyễn, năm Gia Long thứ ba Tống Sơn được gọi là Quý huyện, Gia Miêu ngoại trang được gọi là quý hương”.

Hà Trung là cửa ngõ của tỉnh Thanh. Trên đường thiên lý từ bắc vào nam, từ nam ra bắc, ai cũng phải đi qua Hà Trung. Anh Nguyễn Việt Đức, Bí thư huyện uỷ Hà Trung rất tâm đắc và tự hào, mảnh đất Hà Trung đã được vinh dự đón bước chân đầu tiên của Bác Hồ khi Người về thăm Thanh Hóa lần đầu tháng hai năm bốn mươi bảy. Vinh dự hơn nữa, lần ấy Bác đã về thăm nhân dân Hà Trung mà bà con làng Gia Miêu, xã Hà Long ngày nay đã được thay mặt nhân dân huyện nhà đón Bác. Anh Đức cất kỹ bản sao tờ báo Chống giặc có in bản tin Bác về thăm Hà Long như một báu vật. Bản tin in dòng tít đậm: Hồ Chủ tịch về thăm và thắp hương lăng miếu Triệu Tường. Lăng miếu Triệu Tường là nơi thờ Nguyễn Kim, người anh hùng đã có công trung hưng nhà Lê ở thế kỷ 16, và cả ông tổ của Nguyễn Kim là Nguyễn Bặc, một danh tướng thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10. Anh nói rất có lý, báo chí, tư liệu lịch sử nói nhiều về những chuyến đi thăm của Bác, nhưng chưa có tài liệu nào nói việc Bác thắp hương ở đâu, chỉ riêng có ở Hà Trung là nói rõ Bác đã thắp hương. Rất có thể, những khi đi thăm các di tích, đền đài, Bác cũng đã thắp hương tưởng niệm người xưa, vì việc ấy cũng bình thường thôi, nhưng công bố trên báo chí thì chỉ thấy có ở đây.

                                                                           *

Từ thuở cắp sách đến trường làng, tôi đã thuộc lòng bài diễn ca “Hà Trung non nước đẹp giầu” của một tác giả khuyết danh nào đó: Hà Trung quê tôi có dòng sông Mã / Sáng, trưa, chiều êm ả nước trôi xuôi / Có cánh đồng xanh, mây phủ kín đồi / Có mía ngọt, có người tôi nhớ / Có đất Bái Sơn chính quê tôi ở / Có núi cánh chim, đồi cỏ Hà Lan / Có nước chè xanh mát đất Hà Giang / Mía ngọt, sắn thơm Bùi Đà, Bùi Trạng / Quê hương tôi có mật ngọt Ba Láng / Lợn béo Hà Ninh, Tam Thắng cá tươi / Ngọc Chuế, Hà Lai chuối bán chợ giời… Bùi Đà và Bùi Trạng thuộc xã Hà Bắc, kế mạn trên Hà Bắc là Hà Long, Hà Giang, vùng này đất đỏ ba dan, có loại mía vẫn được dùng để tiến vua, gọi là mía Triệu Tường. Loại mía này lạ lắm. Không như các loại mía khác, mía Triệu Tường lóng mía, mắt mía tròn đều, mềm và giòn, tay không vẫn bẻ được khẩu ngắn. Người già vẫn ăn mía được dễ dàng. Mía dóc vỏ, cắt thành tấm ngắn hơ trên than hồng thì toả ra mùi hương thơm lạ, ăn vào có vị ngọt, mát, tạo cảm giác khó quên. Mật mía Triệu Tường cũng là loại mật độc đáo. Sắc mật trong suốt vàng óng như mật ong, thơm và có vị ngọt đặc biệt, để lâu không bị chua, không bị váng, mốc. Cả vùng Hà Bắc, Hà Long, Hà Giang đều trồng mía. Nhưng cây mía đặc sản này chủ yếu được trồng trên hai khu đồi, đồi Ông Phụ và đồi Bạng, với diện tích khoảng hơn 11 mẫu Trung bộ, tức gần 6 héc ta. Và cũng chỉ những cây mía được trồng trên hai khu đồi ấy mới cho loại mía đặc sản quý để tiến vua. Còn ở những khu đồi chung quanh, cũng với giống mía ấy nhưng dù chăm sóc thế nào cũng không thể có được cái sản phẩm đặc biệt để tiến vua ấy. Và ngược lại, nếu có đem các giống mía từ nơi khác đến trồng thì cũng không thể có kết quả như cây mía tiến. Đó cũng là một điều lạ.

Các cụ kể lại, mía tiến vua phải qua những công đoạn hết sức cầu kỳ. Trước tiên phải chọn những cây mía tốt, lóng dài, tròn đều, không có rệp, không nứt, các đốt phía ngọn không bị dồn chun lại. Khi chuyển vào kinh đô, người ta phải bứng cả cụm, cho vào những sọt tre có đất ẩm như chuyển cây giống. Với cách làm như vậy, vào đến kinh đô, hàng tháng sau, cây mía vẫn còn tươi. Tất cả vị hương,vị ngọt vẫn giữ nguyên như mới đốn ở đồi về.

Khi tiến vua, mía được dóc vỏ, tiện thành khẩu ngắn rồi rồi ủ trong mật mía (Cũng là mật mía Triệu Tường) đang sôi. Ngoài ra còn có mía nướng trên than hồng hoặc ăn tươi tuỳ theo sở thích của nhà vua.

Cũng vùng đất đỏ ba dan ấy còn có loại sắn thơm. Củ sắn không to lắm nhưng nhiều bột, ít dây, không độc. Luộc, đồ bằng chõ hoặc nướng đều thơm ngon.

Cứ theo câu thơ trong bài diễn ca ấy, còn phải kể đến chè xanh Hà Giang. Hà Giang là đất của chè xanh. Cái cây chè là kén đất lắm. Trồng lơ mơ, chọn đất lơ mơ chỉ thu được một mớ gốc chè còi cọc, không có lá. Người Hà Giang mỗi khi đi chơi thăm bà con làng khác thường đem theo một nón chè xanh làm quà. Món quà nhỏ nhoi giản dị đó chứa đựng cái tình nồng đượm mà chân chất của người nông quê. “Ngọc Chuế, Hà Lai chuối bán chợ giời”. Tôi cũng chẳng hiểu sao thuở ấy vùng này lại lắm chuối đến thế. Nhà nào cũng có vườn chuối, mà cây chuối lại rất tốt, quả rất to nữa là đằng khác. Cứ phiên chợ, những gánh chuối, xe thồ chuối lại kìn kìn nối đuôi nhau lên chợ. Ấy là ngày trước, còn bây giờ, lái buôn chuối đến từng vườn, vét sạch từng buồng ngay từ khi chuối vừa rụng rốn. Kể cũng hay, cơ chế thị trường cộng với việc mở cửa thông thương với Trung Quốc, cây chuối tự dưng có giá. Chứ như ngày xưa, chuối từ Ngọc Chuế, Hà Châu, Hà Thái, Hà Lai chở lên chợ Gũ, chợ Lâm, chợ Gáo chất cả đống, xanh cả chợ rồi bán đổ bán tháo mà về. Vớt vát được tiền công đẩy xe là may lắm rồi.

Anh Nguyễn Thanh Tùng lúc còn làm Phó chủ tịch uỷ ban huyện có lần nói với tôi và nhà thơ Mạnh Lê: “Khi nào rảnh rỗi các ông cứ về đây với tôi, chúng ta đi lang thang ở vùng đất Hà Trung này ít ngày. Có nằm đêm ở Hà Trung mới cảm được, thấu được tình đất và người Hà Trung. Ở Hà Trung thế mà khối cái hay cho các ông viết đấy”. Lời mời ấy hình như chỉ để riêng cho anh Mạnh Lê, còn đối với tôi, về Hà Trung là về nhà chứ. Tuy vậy, sau lời mời ấy, tự dưng thấy mình có lỗi với quê hương. Nào mình đã biết gì nhiều về quê hương?… Dạo này tôi hay về quê, cứ hễ có ngày nghỉ là tôi vù về ngay. Có những hôm tôi lang thang cả ngày ở một vùng đồi hay ở một triền đê. Có lúc tôi lại ngồi cả buổi ở một sân đình, chẳng vào nhà ai cả. Mấy người bạn chụp ảnh thi thoảng lại đến rủ tôi đi chụp ảnh, tôi nói: Tôi thích đi lắm, tôi đi nhiều hơn các vị nữa là đằng khác, nhưng tôi chỉ đi một mình, vì chắc chắn sẽ không ai có đủ kiên nhẫn để la cà như tôi. Các bạn hẳn không thể hiểu nổi tôi đã từng ngồi nửa ngày trên mỏm đồi chỉ để ngắm một vách đất nham nhở. Ông bác tôi lên ở với con trên thành phố. Một lần bác nhờ tôi lai xe về thăm nhà. Lúc về đến cầu Lèn, tôi dừng xe, “Bác ở đây chờ cháu một tý”. Thế là tôi đi lang thang một mình dọc bờ sông Lèn. Cho đến lúc sực nhớ có ông bác đang chờ mình ở đầu cầu, quay lại thì trời đã nhá nhem.

Dân các vùng thuộc phủ Hà Trung xưa nhiều người còn nhắc câu “Đình huyện Tống, trống huyện Nga, nhà huyện Hậu…”. Tôi chưa đi nhiều về vùng Hậu Lộc để xem nhà bên ấy to như thế nào. Tôi cũng chưa được thấy ở Nga Sơn có nhiều trống hay có trống to đến mức nào. Nhưng “Đình huyện Tống…” thì quả là tiếng đồn không ngoa. Tống là Tống Sơn, tên cũ của Hà Trung. Ông anh tôi làm nghề thợ mộc. Một lần tôi về quê, anh nói: Trên Hà Long người ta đang sửa đình Bái Đền. Cánh thợ về sửa trên ấy quen cưa xẻ, bào gọt bằng máy móc nên không biết đẽo cột. Họ đành đi tìm thợ. Khi hỏi thăm thì được mách, cả huyện này chỉ còn có ông Tình ở Xuân Áng là biết đẽo cột tròn. Họ tìm đến đây, nhưng tôi bận, tôi đã giới thiệu chú Ngân là học trò tôi lên đẽo cho họ. Chú có rỗi lên mà xem, đình ấy to lắm.

Thế là tôi vù xe lên ngay. Ngôi đình to thật. Những cây cột cái mấy người ôm mới xuể. Những đòn xà to bằng thùng gánh nước. Sau bao năm bỏ hoang, sân đình thành nơi họp chợ, rui mè đang bị tụt dần, mái ngói có chỗ trống hơ trống hoắc. Rất may nhà nước đã kịp trùng tu trước khi ngôi đình đồ sộ ấy sập hẳn. Trong vùng, ngoài đình Bái Đền còn có đình làng Quan Chiêm, đình làng Đình Trung, đình làng Đồng Bồng, đình làng Bình Lâm cũng to không kém. Ngoài ra còn có đình làng Đô Mỹ. Chỉ tiếc một thời chiến tranh, bao nhiêu đình làng đã bị phá.

                                                                     *

Hà Trung có địa hình khá đặc biệt, đó là hai dạng địa hình phổ biến: bán sơn địa và vùng đồng chiêm trũng. Ruộng thì sâu trũng, lại có đồi núi bao bọc. Có những cánh đồng bốn bề là núi đá. Mưa xuống một trận là nước đọng lại mênh mông như biển. Các xã Hà Yên, Hà Dương có vùng đồng mỗi năm chỉ cấy được một vụ chiêm, còn bỏ trắng vụ mùa, vì mùa tháng tám tháng mười cánh đồng ấy nước ngập đến ngực. Dân mấy làng đó thạo nghề đánh nhủi, đơm dong dóc, kéo vó bè là vì thế. Hai tiếng Hà Trung thường đi kèm theo hai từ lũ và lụt. Đã bao lâu nay, nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo, cán bộ nông nghiệp của huyện đau đầu về những phương án tiêu lũ, chống úng, phương án thuỷ nông cho vùng đồng trũng này.

Cây lúa ở Hà Trung bấp bênh lắm. Vụ tháng mười, cấy đàng hoàng, chăm bón chu đáo đấy, nhưng lo nơm nớp. Một tảng mây đen ở đằng đông cũng khiến hàng vạn con người bồn chồn lo âu, ăn không ngon, ngủ không yên.  Làng tôi vẫn truyền đời một câu chuyện xót xa. Một năm, tháng mười, lúa chín vàng rực, người làng rủ nhau xuống đồng gặt. Cắm cây đòn xóc đầu bờ, buông quần bẩm gót xuống ruộng nẻ chân chim đưa hái. Một trận mưa ập xuống, chạy về tránh mưa. Mưa  xối  xả cả đêm, mưa tuôn như xát muối vào ruột. Sáng ra, đồng nước đã trắng băng. Cây đòn xóc cắm đầu bờ chỉ còn nhô lên mấp mô mặt nước. Hạt lúa căng tròn ngâm trong nước, thối rữa. Trời tuôn mưa, nước mắt rơi lã chã. Các cụ truyền nhau câu ai oán “Cắm đòn xóc đầu bờ còn chưa chắc ăn ”.

Năm chín sáu là năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong những năm gần đây. Liên tiếp từ tháng bảy đến tháng mười một, Hà Trung hứng chịu sự ảnh hưởng lớn của các cơn bão từ số 2 đến cơn bão số 5. Tám mươi phần trăm diện tích bị ngập úng. Toàn bộ diện tích lúa mùa và cây màu bị ảnh hưởng. Có những cánh đồng cấy đi cấy lại hai ba lần sau những lần ngập lụt. Ngập lần thứ nhất, mất lúa, nước rút, đem mạ cấy lại. Cấy xong cây lúa chưa bén rễ, lại ngập. Nước rút lại cấy tiếp. Con người kiên gan chạy đua với trời, nhưng thiên tai vốn phũ phàng và vô tâm, sẵn sàng cướp đi mồ hôi nước mắt của người nông dân một cách thản nhiên như không. Đận ấy, ở Hà Ninh, sau khi nước rút lần thứ hai, thấy không thể cấy tiếp. Giống má đâu còn, thời vụ đâu kịp. Huyện chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu, hạ cây ngô bánh xuống đồng. Cây ngô lần đầu về với đất đồng chiêm, chiều lòng người, xanh mơn mởn. Người dân hồ hởi, dẫu sao cũng có hạt lương thực được thu hái đổ vào bồ. Nhưng, niềm vui chưa kịp lan toả ông trời đã phụ công người. Cây ngô mới được hai lá, lại một trận mưa ập xuống, cánh đồng thành biển nước mênh mông, ngập cả tháng trời kéo theo những cái thở dài sườn sượt của người nông phu. Cái năm Chín sáu tai ác ấy, cái úng cái lụt đeo bám dồn đuổi con người đến tận cùng, cho đến tháng mười một vẫn còn lụt. Ngày mùng ba tháng mười một, đang khi giữa mùa khô, thì ông trời đã ban cho Hà Trung một tặng phẩm trái mùa mà muôn đời người Hà Trung khiếp đảm: Mưa lũ. Những trận mưa xối xả, mưa như trút nước kéo dài ba bốn ngày liên tiếp đã gây úng ngập trên diện rộng. Tất cả những cây màu, cây lúa, những diện tích còn sót lại sau những trận lụt trước hoặc được khắc phục trồng lại, dịp này đi tong nốt. Trong đó có cả những đồng lúa đã vàng hoe chỉ còn chờ người đem liềm xuống gặt. Thật không gì phũ phàng hơn.

Ai chưa đến Hà Trung trong mùa mưa lũ, hẳn chưa thể hình dung hết cái cực nhọc, lam lũ nhưng cũng rất kiên cường của người Hà Trung. Thuật ngữ Sống chung với lũ gần đây được nhắc đến như một phương châm mới. Nhưng thực ra, từ ngàn đời nay, người Hà Trung đã sống như vậy. Nào đâu có ai phụ đất. Ông trời gây tai ương. Con người chống chọi với tai ương để giành phần thắng cho mình, để tồn tại. Tôi ghi vội vào sổ tay của mình một vài số liệu về phòng chống lụt bão từ tài liệu của Quyền chánh văn phòng uỷ ban huyện Bùi Ngọc Tấn :

Năm 1996, huy động trên 22 nghìn ngày công, đào đắp trên mười vạn mét khối đất đá, huy động 4 vạn bao tải, 3 vạn cọc tre, củng cố toàn bộ hệ thống bơm điện để chống úng.

Năm 1997, Tổng khối lượng đào đắp đê là 49 vạn mét khối, trong đó đê trung ương là 9 nghìn mét khối. Xây dựng hai kè Hà Toại và Hà Sơn với khối lượng 6 nghìn mét khối. Xây mới hai trạm bơm tiêu với công suất 15,6 nghìn mét khối giờ. Đầu tư 78 triệu đồng tu sửa cống Thạch Quật. 148 đồng triệu cho tu sửa đập Đồng Cầu và đập Ngang (Hà Lĩnh). Tổng đầu tư về thuỷ lợi năm 1997 là 6,4 tỷ đồng.

Năm 1998, Tổng khối lượng đào đắp là 51 vạn mét khối đất. Tu sửa hai cống Ngọc Sơn và Độ Thôn, làm mới cống Bang Thôn, đập Hà Ninh, tu bổ đê Hà Bình, đập Bến Quân.v.v…

Năm 2000 nạo vét kênh mương, thuỷ lợi nội đồng với 15,3 vạn mét khối. Tôn cao nhiều tuyến đê, làm mới cống Đại Lợi, tu sửa âu Như Lăng .v.v… với khối lượng đào đắp 15,5 vạn mét khối, và kinh phí 2,539 tỷ đồng.

Năm 2001, tu bổ 11 vạn mét khối đê, nạo vét 22 vạn mét khối kênh mương. Xây dựng cống Bông, cống T1,T2 Hà Yên và Hà Tiến, nâng cấp đập Sun (Hà Sơn),đê sông Hoạt, cống Tai Voi (Hà Châu). Lập dự án nâng cấp trạm bơm cống Na (Hà Ngọc).v.v…

Những khối lượng công việc đồ sộ, đòi hỏi sức người và sức của rất lớn. Nếu không có sự bền gan, kiên cường, không có quyết tâm cao hẳn không thể chống chọi được với thiên tai khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. Thế mới biết người Hà Trung lam lũ mà kiên cường, gian nan mà chí cả.

Làng tôi có con sông Chiếu Bạch chảy qua trước làng. Sông được đào từ thế kỷ 13 để yểm trấn vượng khí đế vương nào đó. Thuở tôi còn nhỏ, sông rộng lắm, thuyền bè vào buôn bán thường xuyên. Ngày thường nước sông chảy lững lờ. Nhưng đến khi lũ lụt, nước chảy cuồn cuộn. Nước ngập buối sáng, buổi chiều nước rút chòi ngọn lúa. Con sông là cứu cánh của cánh đồng làng tôi. Ấy là chuyện của vài mươi năm trước. Còn bây giờ, mới qua mấy chục năm mà con sông đổi khác quá nhiều. Giờ đây hai bên bờ sông, nhà cửa, ao chuôm mọc lên như ken liếp. Thôi thì, lòng sông nào phải của ai. Những móng nhà, những bờ ao cứ thế thi nhau vươn ra, tôn cao bề thế, vững chãi. Con sông thuở xưa rộng là thế, bây giờ, có chỗ chỉ còn độ dăm thước tây, hai chiếc thuyền thúng đi qua cũng phải né nhau. Những ruột sông trở thành những vụng chứa nước. Mỗi khi có lụt, nước dâng lên đọng lại hàng tháng trời, nào có còn lối thoát. Hà Trung có một hệ thống các con sông có khả năng tiêu úng rất lớn. Đó là các sông Lèn, sông Hoạt, sông Tống Giang, sông Cầu Cừ,  sông Báo Văn, sông Chiếu Bạch… Nhưng giờ đây, trừ sông Lèn, còn hầu hết các con sông ấy đều trong tình trạng như sông Chiếu Bạch, dòng chảy bị thu hẹp. Năm Chín chín, lúc cả nước đang sôi động về việc chọn người tài đức để bầu vào hội đồng nhân dân các cấp. Ngồi nhấm nháp chén trà với anh Lê Như Cương, Chánh văn phòng huyện uỷ Hà Trung, tôi nói, Bây giờ anh nào có tài giải toả được tất cả những căn nhà, những bờ ao đang lấn chiếm lòng sông, cản trở dòng chảy ở tất cả các con sông ở Hà Trung thì bầu làm chủ tịch huyện. Anh Cương cười, “Khó lắm chú mày ạ”.

Tôi đồng ý với anh là khó, nhưng là khó về kinh phí thôi. Cần phải có kinh phí.Ít nhất cũng phải vài chục tỷ.

Để giải quyết được vấn đề đó, trước hết, cần phân loại rõ ràng. Những trường hợp nào được cấp đất đàng hoàng thì cần được đền bù hoặc hỗ trợ di dời. Tất nhiên, nếu có phần lấn chiếm thì phần ấy không được đền bù. Trường hợp nào do xã cấp hoặc bán né luật thì xã phải chịu trách nhiệm. Còn những thành phần tự ý lấn chiếm thì không cần bàn cãi, phải dỡ bỏ vô điều kiện. Theo tôi, cái quyền ấy nằm trong tay chủ tịch huyện.

                                                                          *

Tôi có hai phát kiến, hết sức tình cờ lại trùng lắp với chủ trương của huyện uỷ Hà Trung, tôi vẫn thường nói vui, tư duy của mình chuẩn xác. Hai phát kiến đó là. Một lần họp đồng hương Hà Trung tại thành phố Thanh Hóa, cụng ly với anh Lê Như Cương, tôi nói: Hà Trung có mấy xã như Hà Phong, Hà Ngọc, Hà Lâm…rất xứng đáng phong danh hiệu anh hùng trong kháng chiến, sao huyện chưa làm thủ tục đề nghị nhà nước tuyên dương cho các xã ấy. Không làm là thiệt thòi đó. Anh Cương cười, Đang xúc tiến rồi đấy. Huyện đang cho các xã ấy làm tờ trình để trình lên cấp trên rồi. Chắc sẽ được phong thôi. Quả nhiên, sau đó ít lâu, tôi nhận được giấy mời về dự lễ đón anh hùng. Một lần khác, ngồi ăn cơm với một anh người nhà là cán bộ Ban tuyên giáo huyện uỷ, tôi nói: Hà Trung có một việc cần phải làm, mà phải làm ngay. Anh hỏi, việc gì vậy. Tôi trả lời: Tôn tạo lại gác chuông chùa Trần và đặt ở đó một tấm bia kỷ niệm, nơi tháng 10 năm 1930 đã diễn ra sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Hà Trung, một trong số ít tổ chức Đảng ra đời ngay sau khi Đảng cộng sản Đông Dương được thành lập. Anh cười, “Ấy chú, cái Gác chuông ấy xây sắp xong rồi. Đang phấn đấu khánh thành vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập đảng bộ đấy”. Tôi ngạc nhiên, “Thế à, về đến đây em mới biết đấy. Nhưng điều đó em nghĩ đã từ lâu rồi”. Rồi tôi lại tự khen mình, Tư duy của em chuẩn thật, anh nhỉ.

Chi bộ Đảng Cộng sản ở Hà Trung được thành lập khá sớm. Tháng 10 năm 1930, đại diện Xứ uỷ Trung Kỳ về Hà Trung cùng với các đồng chí ở địa phương tổ chức hội nghị thành lập chi bộ Đảng tại gác chuông chùa Trần (lúc bấy giờ là tổng Ngọ Xá, nay thuộc xã Hà Ngọc). Hà Trung cũng là nơi có chi bộ Tân Việt đảng rất sớm, từ năm 1927. Các đảng viên Tân Việt như các cụ Lê Tất Đắc, cụ Nguyễn Văn Huệ, cụ Mai Tự Cường, cụ Đào Xuân Tỵ… trở thành những đảng viên cộng sản đầu tiên ở Hà Trung. Cụ Lê Tất Đắc, cụ Nguyễn Văn Huệ còn là những cán bộ cấp cao nhất của tỉnh trong những ngày cách mạng tháng Tám thành công, và là đại biểu Quốc hội khoá I. Hà Trung cũng là nơi có trường học quốc ngữ khá sớm. Tổng Trung Bạn (nay là các xã Hà Giang, Hà Tiến) thành lập được hai trường tiểu học từ năm 1920. Năm 1926 trường tiểu học Pháp-Việt được thành lập ở Đò Lèn. Sau ngày hòa bình lập lại, năm 1959, trường cấp ba Hà Trung là một trong ba trường cấp Ba đầu tiên của tỉnh được thành lập (Trường Lam Sơn, trường Thọ Xuân và trường Hà Trung). Anh Nguyễn Việt Đức, Bí thư huyện uỷ có một nhận xét thú vị. Ở Hà Trung, tổng số các cháu vào học cấp ba, đậu vào đại học thấp hơn một số huyện khác. Nhưng nếu tính tỷ lệ thì lại cao hơn, vì dân số Hà Trung không đông lắm.(Hà Trung là huyện có số dân thấp nhất trong số các huyện đồng bằng, thấp hơn cả Thạch Thành).

*

Tôi vẫn trộm nghĩ, Hà Trung rất có điều kiện phát triển kinh tế du lịch. Cụ Mai Hữu Ngoạn, một cán bộ lão thành ở Hà Ngọc nói rất trúng ý tôi. Vùng tả ngạn sông Lèn từ Hà Ngọc lên Hà Sơn phong cảnh diệu trí, núi non hùng vỹ. Đặc biệt lối đền Cây Thị, núi Kim Âu, núi Chung Chinh, đền Hàn Sơn… là một danh thắng, hàng năm vẫn đón một lượng lớn du khách gần xa. Nếu quy hoạch thành cụm du lịch sinh thái-văn hóa, hẳn sẽ còn thu hút khách thập phương nhiều hơn nữa. Kim Âu có nghĩa là chum vàng. Trên đỉnh núi có một khối đá hình cái chum, có nắp đậy to bằng chiếc chiếu đôi. Tuy là một tảng đá lớn nặng hàng vài tấn nhưng chỉ bằng tay không cũng đẩy chiếc nắp chum hé ra một tý (Đó cũng là một sự lạ). Chỉ hé thôi chứ không bao giờ mở được rộng hơn để nhìn thấy trong đó có gì. Truyền ngôn dân gian nói rằng đó là một chum đầy vàng. Nếu gia đình nào sinh được mười người con trai thì lên sẽ mở được nắp chum. Trong làng có một nhà sinh được chín người con trai. Cả làng xuýt xoa, giá ông bà cố thêm một bận nữa. Cũng ở Hà Ngọc, xưa có chùa Linh Xứng, tương truyền do Thái uý Lý Thường Kiệt xây dựng năm 1085 khi ông làm tổng trấn Thanh Hoá. Đi xuôi xuống làng Chương Các có chùa Long Cảm là ngôi chùa cổ được vua Lý Thái Tổ cho xây dựng từ đầu thế kỷ XI. Chùa có tháp Chiêu Ân cao chín tầng chót vót “Gió rung chuông bạc, Hoà nhịp chim rừng, Tháp báu nắng soi, Long lanh vàng điệp…”. Kế đó là Ly Cung nhà Trần ở xã Hà Đông. Hương Đại Lại xã Hà Đông cũng là nơi phát tích đế vương của Hồ Quý Ly, một nhà cải cách táo bạo ở thế kỷ XV. Hà Trung có nhiều đồi núi. Mỗi ngọn núi, dòng sông đều chứa những huyền tích kỳ bí. Tôi vẫn tiếc, giá ở khu núi thông và hồ Con Nhạn xây dựng được một điểm du lịch sinh thái thì sự hấp dẫn du khách sẽ không kém bất cứ ở một nơi nào khác.

                                                                             *

Chủ tịch huyện Nguyễn Quốc Tuấn quá bận. Lần đầu đến làm việc, khi nhận lời trên điện thoại, anh cảm thông trước, chỉ có thể ngồi được một tiếng đồng hồ thôi. Thế nhưng, chưa đầy một tiếng, đã thấy ông giám đốc xí nghiệp thuỷ nông huyện đến mời đi thị sát tình hình. Muốn gặp để làm việc tiếp, gọi điện cho văn phòng ba bốn lần mới gặp anh ở nhà. Vừa gặp, bắt tay chào nhau anh đã phân bua “Bận lắm, có hai ông phó thì một ông đi học. Công việc dồn lại, chẳng có lúc nào rảnh. Trao đổi gì thì khẩn trương đi, lát nữa lại có việc phải đi rồi”. Ngồi chưa được bao lâu đã có điện thoại giục, anh đành cảm lỗi và chia tay. Bùi Ngọc Tấn rỉ tai tôi, công việc của ổng thế đó, bận lắm, đi suốt ngày. Về đến cơ quan là có khách đến làm việc, hết đoàn nọ đến đoàn kia.

Biên chế các phòng ban ở cơ quan huyện rất gọn nhẹ. Công việc cứ nhộn nhịp, ai cũng khẩn trương. Không thấy có tình trạng ngồi uống nước tán chuyện vặt như một số công sở cấp huyện khác. Quyền chánh văn phòng Bùi Ngọc Tấn thì khỏi phải nói, bận túi bụi. Mấy lần tám chín giờ tối tôi gọi điện cho Tấn về nhà riêng đều được trả lời là đang ở cơ quan. Gọi sang cơ quan, lần nào cũng như lần nào đều nghe “Đang làm nốt tý việc…”. Tôi nói, sao không xin thêm người mà làm. Tấn trả lời, Có đấy, nhưng phải theo quy trình của tổ chức.

                                                                               *

Ôi nhớ sao mít, ổi Hà Thanh / Dầu sở, cam sành Hà Bình, Hà Lĩnh / Cần, muống Hà Châu núi rừng đẹp cảnh / Hà Toại, Độ Thôn khoai lắm lúa nhiều / Dâu kín bãi dập dìu hợp tác / Mảnh đất Hà Tân núi rừng bát ngát / Tu hú kêu vải ngọt Hà Phong / Chợ Gũ, chợ Lâm , cải bắp cải vồng, khoai sọ khoai lang đất bồi khối củ 

Bài diễn ca Hà Trung thuở ấy âm vang mãi trong tôi. Âm vang như một lời mời gọi. Với quê hương, rất nhiều địa chỉ tôi đã đi qua đi lại nhiều lần. Nhưng dừng lại… thì chưa. Tôi còn nợ quê hương nhiều, nhiều lắm.

                                                         Thiều Áng, tháng Chín năm Ngọ

                                                                       LÂM BẰNG

[Quay lại]
 
 
Các tin khác
Bản đồ xã Hà Ngọc [09-01-2017 03:56]
Giới thiệu chung về huyện Hà trung [14-06-2013 11:38]
Dự án tôn tạo chùa Linh Xứng [14-06-2013 11:37]
Đò Lèn sau tháng năm bom đạn [14-06-2013 11:37]
Về Hà Ngọc tìm dấu vết chùa Linh Xứng [13-04-2010 00:00]
  tin tiêu điểm
Bản đồ xã Hà Ngọc
Bài thơ Đò Lèn
Lễ hội khai ấn đền Lý Thường Kiệt Hà Ngọc Hà Trung Thanh Hóa
Thơ hội đồng hương Hà Ngọc về thăm quê 2014
Một chiều cuối xuân nắng nhạt chúng tôi về lại Ðò Lèn
HỖ TRỢ TRựC TUYẾN
0986 84 94 62
videp clip
liên kết
 
 
Trang chủ | Liên hệ | Lên đầu trang
Copyright © 2021 - Hội đồng hương xã Hà Ngọc
Địa chỉ : Xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
Điện thoại : 0986.84.94.62  -  Fax : 037
Email : info@donghuonghangoc.com   -   Website : http://donghuonghangoc.com
Thiết kế bởi : Hoàng Viết Tân